cách soạn đề thi tiếng Nhật thích hợp, có đáp án nhất định và dễ chấm điểm

86

“THI” là gì? Đa số người tưởng rằng “thi” nghĩa là “giáo viên đưa ra bài cho học viên, kiểm tra năng lức và kiến thức của học viên”. Những mà các thầy cô không nên quên rằng khi mà giáo viên xem xét học viên, học viên cũng luôn đánh giá giáo viên. Các thầy cô không nên xem thường học viên nhé, Tục ngữ cũng nói rằng “Nhất quỷ nhì ma thứ 3 học trò” chứ? Học viên có thể là học câu và từ vựng tiếng Nhật thực tế bằng những Anime, Manga, phim, và v.v. mà giáo viên người Việt có thể chưa biết.

 
V.d. , trong sách Minna-No-Nihongo chỉ dạy câu dưới đây rằng phải sử dụng に.

一週間( に )3回きっさてんに行きます

 
Nhưng mà, tiếng Nhật thực tế thì cũng nói dưới đây

一週間( で )3回、きっさてんに行きます

 
Người Nhật thì khi suy nghĩ “chỉ miêu tả” thì sử dụng に, tuy nhiên là khi suy nghĩ một cách “kết quả của sự chất đống, vừa đếm số vừa nói” thì sử dụng で chư không phải là に. Nếu không tin được là hãy tra câu này “一週間で5㎏痩せる (giảm cân 5kg BẰNG 1 tuần)” trên mạng đi.

Giáo viên phải lý giải nội dụng quyến sách học đầy đủ. Và khi mà soạn đề thi thì phải có kiến thức gấp mấy lần hơn khi lên lớp. Đặc biệt là khi mà soạn đề “thi viết thực tế” chứ không phải là “thi trắc nghiệm” thì phải có đầy đủ kiến thức về môn học đó. Hơn nữa, khi đó thì phải chuẩn bị giấy đáp án mẫu mà nhất định, tất cả giáo viên phụ trách chấm điểm có thể lý giải và nhất trí. Nếu không thể là không nên soạn đề thi như vậy.

Khi mà học viên trước mặt đề thi có sai lầm, chấm điểm không chính xác, đầu tiên là họ cảm thầy “ngạc nhiên”, sự ngạc nhiên sẽ thành “nổi giận”, sự nổi giận dễ thành “thất vọng”, cuối cùng là cái thất vọng sẽ thành “thái độ coi thường giáo viên”. Chúng ta cố gắng tránh việc đó.


Vậy là bay giờ bắt đầu nói về đề thi cụ thể.

Trợ từ tiếng Nhật thì có thể sử dụng rất tự do, không hạn chế như giới từ của tiếng Anh hay tiếng Việt.

v.d., trong sách học có bài luyện tập ngữ pháp dưới đây

1. 練習問題:「まで」「から」を使って文章を完成させなさい
 
1-1. この飛行機はホーチミン市(   )ハノイ(   )飛びます

Bài luyện tập ngữ pháp là bài luyện tập ngữ pháp, chứ không phải là bài kiếm trả. cho nên là không nên ra đề thi dưới đay bừa bãi.

1. (   )にてきとうなことばをいれてください
 
1-1. この飛行機はホーチミン市(   )ハノイ(   )飛びます

Theo tôi, có rất nhiều đáp án. Ngay cả người Nhật không thể đếm xuế và câu nào đều chính xác.

V.d…

Máy bay này bay từ TPHCM đến Hà Nội :
この飛行機はホーチミン市( から )ハノイ( まで )飛びます
この飛行機はホーチミン市( から )ハノイ( へ )飛びます
この飛行機はホーチミン市( から )ハノイ( へと )飛びます
この飛行機はホーチミン市( より )ハノイ( に )飛びます
この飛行機はホーチミン市( より )ハノイ( へ )飛びます

Máy bay này bay đến TPHCM và Hà Nội :
この飛行機はホーチミン市( と )ハノイ( に )飛びます
この飛行機はホーチミン市( と )ハノイ( へ )飛びます

Máy bay này bay nào là TPHCM nào là Hà Nội :
この飛行機はホーチミン市( や )ハノイ( に )飛びます
この飛行機はホーチミン市( や )ハノイ( へと )飛びます
この飛行機はホーチミン市( や )ハノイ( へ )飛びます

Máy bay này bay đến Hà Nội chứ không phải là TPHCM :
この飛行機はホーチミン市( ではなく )ハノイ( に )飛びます
この飛行機はホーチミン市( ではなく )ハノイ( へ )飛びます
この飛行機はホーチミン市( ではなく )ハノイ( へと )飛びます

Máy bay này bay không chỉ đến TPHCM mà còn đến Hà Nội :
この飛行機はホーチミン市( だけではなく )ハノイ( にも )飛びます
この飛行機はホーチミン市( のほかに  )ハノイ( にも )飛びます

Máy bay này bay đến TPHCM và tiếp theo là đi Hà Nội :
この飛行機はホーチミン市( のつぎは )ハノイ( に )飛びます
この飛行機はホーチミン市( のつぎに )ハノイ( へと )飛びます
この飛行機はホーチミン市( のつぎに )ハノイ( へ )飛びます

và. v.v……

Nếu hạn chế “phải sử dụng 1 trợ từ thôi” cũng có thể trả lời rất nhiều đáp án. Trong tiếng Nhật có ngoài 100 cái trợ từ. nếu có 2 chỗ điền vào thì 100×100=10,000. làm sao mà check trước xuế được?

Nên phải soạn đề như dưới đây

1. (   )の中のいちばんいいことばに〇をつけて、ぶんをつくってください
 
1-1. 飛行機はホーチミン市(から/へ/が/と)ハノイ(と/へも/まで/が)飛びます

Sự quan trọng là,

  • chỉ có 1 đáp án chính xác nhất định
  • ép học viên chọn từ vựng sẵn có
  • phải nói ぶんをつくってください(là, khi chấm điểm thì cả 2 chỗ điền vào cũng chính xác mới có điểm. 1cái là đúng mà 1 cái là sai thì câu sai nên không có điểm)
  • không nên có chỗ điền vào, từ vựng quá nhiều (câu đó thì chỉ 4×4=16 pattern nên có thể check trước được).

 
Nến là nói về câu 一週間に3回きっさてんに行きます thì đưới đây là thích hợp

1. (   )の中のいちばんいいことばに〇をつけて、ぶんをつくってください
 
1-1 一週間(に/と/も/が/より)3回きっさてんに行きます

Quan trọng là ép học viên không chọn từ で, は, だと để xác định đáp án nhất định. Theo tôi, đề thi nghiêm túc thì chắc chắn soạn đề như vậy.

 
Và, trươc đây tôi nhìn thấy câu hỏi dưới đây

ここ(  )ホテル(   )予約(  )できます

Có lễ người ra đề muốn học viên đáp án dưới đây.

ここ( で )ホテル( の  )予約( が )できます
Ở đây thì (bạn) có thể đặt (phòng) khách sạn.

Nhưng mà một học viên nọ đáp án dưới đây nên tôi đẫ ngạc nhiên

ここ( は )ホテル( で )予約( が )できます
(Cơ sơ, thiết bị ) này thì hẹn lịch được tại (quầy) khách sạn

Đáp án này thì vượt qua cách suy nghĩ của hầu hết giáo viên mà chính xác! Ngay cả người Nhật không thể tưởng tượng trước! Thật là “nhất quý nhì ma thứ 3 học trò”!! Giáo viên phải luôn luôn sợ năng lức học trò nhỉ?

 
Và nói về trợ từ は và が ( bạn có biết rằng が thuộc nhóm 格助詞, は thuộc nhóm とりたて助詞 chứ?) thì , theo lý thuyết mà học được trên sách Minna-no-Nihongo thì không thể phần biệt は hay が cái nào tốt .

Những chuyện gia đã nghiên cưu rất lâu, hiên đại có những 5 cách phần biệt theo các ngữ cảnh (theo Ông tiên sĩ Noda Hisashi. tôi thì khi dạy là dùng 7 cách phần biệt) mà ngay cả người Nhật cũng 99.99% là không biết lý thuyết đó. Hơn nữa, nếu chỉ có câu ngần và không biết ngữ cảnh thì ngay cả tiên sĩ tiếng Nhật cũng tuyệt đối không phần biệt được.

Tôi thì dạy lý thuyết đó cho học viên xong bài 50 mà hầu như học viên vẫn sai nhầm. Không nên ra để về は và が cho sơ cấp.

cho nên là câu hỏi dưới đây là không sao.

ここ( で/に/が )ホテル( や/へ/の )予約( を/が )できます

 
Câu hỏi “đặt câu” cũng giống nhau. Nếu ép học viên viết tự do thì giáo viên không phải là tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật không thể chấm điểm chính xác.

1. ことばをならべて、ただしい文にしなさい。(つかわないことばが3つあります)
 
1-1 cho dù là cuối tuần, tôi không có thời gian đi chơi
ない/なの/に/まつしゅう/いく/に/ません/じかん/あそび/しゅうまつ/とき/が/あり
 
こたえ:しゅうまつ なの に あそび に いく じかん が あり ません

Theo kinh nghiêm của tôi, câu hỏi như trên này cũng khó đầy đủ đối với học viên và có thể phần biệt năng lức của học viên được, dễ chấm điểm được.

0